Engineering
Từ khi thành lập năm 2003, chúng tôi xây dựng phần mềm, phát triển thuật toán, nghiên cứu công nghệ nền tảng và vận hành hệ thống. Một số hệ thống đã chạy ổn định hơn 20 năm.
Phân phối
Bắt đầu từ hoạt động phát triển và vận hành dịch vụ cho thị trường Nhật Bản, chúng tôi đã phân phối ứng dụng trên toàn thế giới từ năm 2016.
- Mở rộng sang 39 ngôn ngữ và vận hành bản dịch
- Xây dựng và vận hành nền tảng phát hành trên cửa hàng
- Áp dụng trung gian quảng cáo
- Đo lường và phân tích tình hình sử dụng
39 ngôn ngữ / thanh toán tại 52 quốc gia và khu vực với 36 loại tiền tệ (từ năm 2016)
Stack cốt lõi
Bảo mật 2017–
Phân phối di động 2016–
Hệ thống nhúng và OS 2008–
Mạng và giao thức 2004–
Hệ thống nghiệp vụ và thương mại 2004–
Xử lý hình ảnh, tài liệu và ngôn ngữ 2003–
Lựa chọn công nghệ
Chúng tôi phát triển ứng dụng di động từ năm 2009, thế hệ iPhone 3GS, và phát hành ứng dụng của chính mình từ năm 2016. Điểm khởi đầu là điều mà iPhone đã cho thấy: một thiết bị hiệu năng cao nằm gọn trong một bàn tay, kết nối mạng và có thể đưa dịch vụ đến bất kỳ đâu trên thế giới.
Những gì chúng tôi xây dựng quay trở lại dưới dạng dữ liệu sử dụng. Công nghệ và UI/UX được đánh giá liên tục trong môi trường thực, và việc tự phát hành mang lại quy mô kiểm chứng mà từng dự án riêng lẻ hiếm khi có được. Kinh nghiệm thu được ở đó cũng phản ánh vào thiết kế ngoài mảng di động.
Năm 2016 chúng tôi so sánh Xamarin, Cordova và React Native ở mức triển khai, và đánh giá Flutter từ khi công bố. Hiện nay hướng chính là triển khai native bằng Swift và Kotlin, với SwiftUI dùng trong sản phẩm thật từ thế hệ iOS 15.
Viết ở lớp gần hệ điều hành và phần cứng cho phép tinh chỉnh cả tốc độ đo được lẫn tốc độ cảm nhận khi dựng hình và xử lý camera, đồng thời dùng tính năng mới của hệ điều hành hay thư viện C/C++ mà không phải chờ lớp trừu tượng. Các ứng dụng vận hành lâu dài cũng tránh được thay đổi phá vỡ tương thích từ phía framework.
Device Control
Barcode-Based Device Readout
Giá trị đo từ thiết bị được thu thập qua ba đường: BLE, Wi-Fi và mã vạch.
Thiết bị gửi giá trị đo qua sóng không dây, đồng thời hiển thị dưới dạng mã vạch trên màn hình của chính nó. Ứng dụng đọc bằng camera và liệt kê từng giá trị kèm thời điểm đọc.
Một ứng dụng xử lý cả ba đường, nên giá trị đều đến cùng một màn hình dù đi theo đường nào.
On-Device AI
On-Device AR Recognition
Vật thể trong khung hình camera được nhận dạng ngay trên thiết bị và gắn nhãn trong không gian AR.
Việc nhận dạng chạy trên chính thiết bị. Mỗi nhãn được neo vào vị trí của vật thể nên chữ vẫn bám theo khi di chuyển camera.
Tên và độ tin cậy hiện ra ngay khi được nhận ra. Dữ liệu không rời khỏi thiết bị.